Nhiệt độ chuyển thủy (Tg): Đây là nhiệt độ tới hạn mà tại đó một polyme vô định hình (hoặc các vùng vô định hình của một polyme bán tinh thể) chuyển từ trạng thái cứng, giống thủy tinh sang trạng thái mềm, giống cao su. Nó đại diện cho nhiệt độ thấp nhất mà tại đó các chuỗi polyme có đủ năng lượng cho chuyển động phân đoạn và thường được coi là giới hạn nhiệt độ sử dụng trên cho các bộ phận nhựa cứng.
Nhiệt độ nóng chảy (Tm): Điều này áp dụng cho các polyme tinh thể và là nhiệt độ mà tại đó cấu trúc tinh thể có tổ chức bị phá vỡ và polyme chuyển thành chất lỏng nhớt. Tm đại diện cho giới hạn dưới của phạm vi nhiệt độ xử lý cho các vật liệu này.
Nhiệt độ chảy (Tf): Đối với các polyme vô định hình không có điểm nóng chảy riêng biệt, Nhiệt độ chảy là điểm mà tại đó vật liệu chuyển từ trạng thái đàn hồi cao, giống cao su sang trạng thái chảy nhớt, làm cho nó phù hợp với các quy trình đúc như ép phun.
Nhiệt độ không chảy: Đây là một thông số xử lý thực tế được định nghĩa là nhiệt độ cao nhất mà tại đó một polyme sẽ không chảy dưới một áp suất cụ thể. Nó được xác định bằng thực nghiệm bằng cách sử dụng thiết bị như máy đo độ nhớt mao quản và giúp thiết lập nhiệt độ thùng tối thiểu để ngăn chặn dòng chảy vật liệu sớm, hoặc "rỉ vít".
Nhiệt độ phân hủy (Td): Nếu một polyme được nung nóng vượt quá cửa sổ xử lý của nó, các chuỗi phân tử bắt đầu bị phá vỡ về mặt hóa học. Nhiệt độ phân hủy là điểm mà tại đó sự suy thoái này trở nên đáng kể và nhanh chóng, dẫn đến mất mát nghiêm trọng về tính chất, sự phát triển của khí và hóa than. Quá trình xử lý phải luôn diễn ra ở nhiệt độ thấp hơn nhiều so với Td.